Bệnh Pebrine, còn gọi là bệnh tằm gai, là một trong những bệnh nguy hiểm nhất trong ngành nuôi tằm dâu vì có khả năng truyền qua trứng, làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giống và có thể gây thiệt hại kéo dài qua nhiều thế hệ tằm. Tác nhân gây bệnh là Nosema bombycis, một vi sinh vật nội bào thuộc nhóm Microsporidia, thường được gọi là vi bào tử. Khi tằm bị nhiễm Pebrine, cơ thể phát triển chậm, ăn kém, còi cọc, xuất hiện đốm đen nhỏ trên da, chất lượng kén giảm và trong trường hợp nặng có thể chết trước khi nhả tơ. Với Pebrine, phòng bệnh và kiểm soát nguồn giống quan trọng hơn điều trị, vì khi bệnh đã xuất hiện rõ trong đàn tằm thương phẩm thì gần như không có thuốc đặc trị hiệu quả.
.png)
1. BỆNH PEBRINE Ở TẰM LÀ GÌ?
Pebrine là bệnh do vi bào tử Nosema bombycis gây ra. Đây là tác nhân ký sinh nội bào, có thể xâm nhập và phát triển trong nhiều mô của tằm. Khi nhiễm bệnh, tằm không chỉ yếu ở một giai đoạn nhất định mà có thể bị ảnh hưởng trong suốt vòng đời, từ trứng, ấu trùng, nhộng đến ngài.
Điểm nguy hiểm nhất của Pebrine là khả năng truyền dọc qua trứng. Nếu ngài mẹ bị nhiễm Nosema bombycis, mầm bệnh có thể truyền sang trứng và làm thế hệ tằm sau bị nhiễm ngay từ đầu. Đây là lý do Pebrine từng được xem là một trong những bệnh gây khủng hoảng lớn trong lịch sử ngành tơ tằm.
Khác với một số bệnh do vi khuẩn có thể xử lý bằng kháng sinh khi phát hiện sớm, Pebrine gần như không có biện pháp điều trị hiệu quả trong sản xuất thương phẩm. Vì vậy, kiểm soát Pebrine phải bắt đầu từ giống tằm sạch bệnh.
2. VÌ SAO PEBRINE ĐẶC BIỆT NGUY HIỂM?
Pebrine nguy hiểm vì bệnh không chỉ làm chết tằm trong một lứa, mà còn có thể làm hỏng cả hệ thống giống. Một đàn tằm nhiễm Pebrine có thể phát triển không đều, tằm còi cọc, ăn yếu, ngủ – dậy không đồng loạt, nhả tơ kém và cho kén nhẹ. Nếu giữ lại nhộng, ngài hoặc trứng từ đàn nhiễm bệnh, mầm bệnh có thể tiếp tục truyền sang thế hệ sau.
Trong nuôi tằm thương phẩm, Pebrine làm giảm tỷ lệ sống, giảm sức ăn, giảm chất lượng kén và làm người nuôi khó kiểm soát đàn. Trong sản xuất trứng giống, bệnh còn nguy hiểm hơn vì một nguồn giống nhiễm Pebrine có thể phát tán bệnh trên diện rộng.
Vì vậy, khi nói đến Pebrine, không nên chỉ nghĩ đến việc cứu vài con tằm bệnh, mà phải nghĩ đến việc chặn nguồn bệnh khỏi hệ thống giống và nhà tằm.
3. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH PEBRINE
Tác nhân gây bệnh là Nosema bombycis, thuộc nhóm Microsporidia. Đây là dạng vi bào tử ký sinh nội bào, có khả năng tồn tại dưới dạng bào tử và lây nhiễm cho tằm khi điều kiện phù hợp.
Bệnh có thể lây theo hai con đường chính. Con đường thứ nhất là truyền qua trứng từ ngài mẹ nhiễm bệnh sang thế hệ con. Đây là con đường nguy hiểm nhất trong sản xuất giống. Con đường thứ hai là lây ngang qua thức ăn, phân, xác tằm bệnh, dụng cụ, môi trường nuôi, bụi bẩn hoặc vật liệu nhiễm bào tử.
Khi tằm ăn phải bào tử Nosema hoặc tiếp xúc với môi trường nhiễm bệnh, bào tử có thể xâm nhập vào cơ thể, phát triển trong tế bào và làm rối loạn chức năng sinh lý của tằm.
4. TRIỆU CHỨNG PEBRINE TRÊN TẰM
Tằm bị Pebrine thường phát triển chậm, thân nhỏ, còi cọc, ăn yếu và không đồng đều so với đàn khỏe. Một số con có màu sắc nhợt nhạt, kém bóng, thân mềm yếu hoặc xuất hiện các đốm đen nhỏ trên da. Đây là lý do bệnh còn được gọi là bệnh tằm gai hoặc bệnh đốm tiêu trong một số tài liệu dân gian.
Ở tằm con, bệnh có thể làm tằm chết sớm, ngủ – dậy không đều, chậm lớn và khó nuôi. Ở tằm lớn, bệnh có thể làm tằm ăn rỗi kém, tuyến tơ phát triển không tốt, chín không đều, nhả tơ yếu hoặc không tạo kén đạt chất lượng.
Một điểm cần chú ý là triệu chứng bên ngoài của Pebrine đôi khi không thật rõ ở giai đoạn đầu. Có những đàn tằm nhìn chỉ hơi còi, phát triển không đều nhưng khi soi kính hiển vi mới phát hiện bào tử Nosema. Vì vậy, chẩn đoán Pebrine không nên chỉ dựa vào mắt thường.
5. TRIỆU CHỨNG PEBRINE TRÊN NHỘNG VÀ NGÀI
Nhộng bị nhiễm Pebrine có thể phát triển yếu, không hoàn thiện bình thường, chết sớm hoặc cho ngài yếu. Ngài nhiễm bệnh có thể giảm sức sống, đẻ trứng kém, tỷ lệ trứng nở thấp hoặc truyền mầm bệnh sang trứng.
Trong sản xuất giống, ngài mẹ là đối tượng cần kiểm tra rất quan trọng. Nếu ngài mẹ nhiễm Nosema bombycis, trứng đẻ ra có nguy cơ nhiễm bệnh và tạo thành nguồn phát tán Pebrine cho lứa sau.
Vì vậy, với Pebrine, việc kiểm tra ngài mẹ và nguồn trứng giống bằng kính hiển vi có ý nghĩa rất lớn. Đây là biện pháp phòng bệnh căn bản hơn nhiều so với cố điều trị khi tằm đã phát bệnh.
6. PEBRINE CÓ THỂ PHÁT HIỆN BẰNG KÍNH HIỂN VI KHÔNG?
Có. Pebrine là một trong những bệnh trên tằm có giá trị chẩn đoán rất cao bằng kính hiển vi. Khi lấy mẫu từ tằm bệnh, nhộng, ngài hoặc mẫu giống nghi nhiễm, nghiền và soi dưới kính hiển vi, có thể phát hiện bào tử Nosema bombycis.
Bào tử Nosema thường có dạng hình bầu dục, hình trứng hoặc elip nhỏ, sáng rõ dưới kính hiển vi quang học. Đây là dấu hiệu quan trọng giúp phân biệt Pebrine với nhiều bệnh khác như Flacherie, bệnh vi khuẩn đường ruột, bệnh nấm hoặc ngộ độc.
Tuy nhiên, để kết luận chính xác, người soi cần có kỹ thuật chuẩn bị mẫu và kinh nghiệm đọc tiêu bản. Nếu mẫu lấy sai, mẫu quá ít hoặc người soi chưa quen, có thể bỏ sót bào tử hoặc nhầm với tạp chất.
Tham khảo thêm: Kính hiển vi phát hiện được những bệnh gì trên tằm dâu?
7. PEBRINE KHÁC GÌ VỚI BỆNH VI KHUẨN, VIRUS VÀ NẤM?
Pebrine là bệnh do vi bào tử Nosema bombycis, khác với bệnh do vi khuẩn, virus và nấm. Bệnh vi khuẩn thường liên quan đến phân lỏng, phân dây, xác mềm, thối, mùi hôi hoặc hoại huyết. Bệnh nấm trắng – nấm vôi thường làm tằm chết cứng và phủ lớp mốc trắng. Bệnh virus như tằm khúc, tằm đốt thường làm tằm phát triển bất thường theo đốt, yếu và không có thuốc đặc trị rõ.
Pebrine thường nổi bật ở tình trạng tằm còi cọc, phát triển không đều, kém ăn, thân nhợt, có đốm đen nhỏ và có nguy cơ truyền qua trứng. Muốn xác định chắc chắn, cần soi kính hiển vi tìm bào tử Nosema.
Việc phân biệt đúng rất quan trọng vì Pebrine không thể xử lý như bệnh vi khuẩn thông thường. Kháng sinh không có tác dụng đặc trị Pebrine.
Tham khảo thêm: Tổng hợp các bệnh thường gặp trên tằm dâu và cách phòng trị
8. PEBRINE CÓ CHỮA ĐƯỢC KHÔNG?
Trong điều kiện sản xuất hiện nay, Pebrine gần như không có thuốc đặc trị hiệu quả để cứu đàn tằm đã nhiễm bệnh. Khi đã phát hiện rõ Pebrine trong đàn, việc cố điều trị thường không mang lại hiệu quả kinh tế và còn có nguy cơ làm mầm bệnh phát tán sang môi trường, dụng cụ, lứa sau hoặc nguồn giống.
Cách xử lý đúng là loại bỏ và tiêu hủy nguồn bệnh, vệ sinh sát trùng nghiêm ngặt, không dùng đàn nhiễm bệnh làm giống, không giữ lại ngài hoặc trứng từ đàn nghi nhiễm.
Đây là bệnh mà người nuôi cần tư duy theo hướng “phòng và kiểm soát nguồn bệnh” thay vì “đợi bệnh rồi chữa”.
9. CÁCH XỬ LÝ KHI NGHI TẰM BỊ PEBRINE
Khi thấy đàn tằm còi cọc, phát triển không đều, có đốm đen nhỏ trên da, kém ăn, chết rải rác hoặc nghi nhiễm Pebrine, cần cách ly khu nghi bệnh và lấy mẫu để soi kính hiển vi nếu có điều kiện.
Những con tằm bệnh, tằm chết, tằm còi nghi nhiễm cần được loại bỏ khỏi đàn khỏe. Xác tằm, phân, lá dư và rác từ khu bệnh phải được xử lý bằng vôi hoặc chất sát trùng phù hợp, sau đó chôn sâu hoặc tiêu hủy xa nhà tằm. Không đổ rác bệnh gần vườn dâu hoặc gần khu nuôi.
Nếu kết quả soi xác định có Nosema, không nên giữ đàn đó làm giống. Nhà tằm, dụng cụ, nong, khay, lưới, dao thái lá, khu chứa lá và né phải được vệ sinh sát trùng kỹ trước khi nuôi lứa mới.
10. PHÒNG BỆNH PEBRINE BẰNG NGUỒN TRỨNG GIỐNG SẠCH
Nguồn trứng giống là điểm kiểm soát quan trọng nhất. Người nuôi nên chọn trứng tằm từ đơn vị có uy tín, có kiểm soát bệnh, có quy trình sản xuất giống rõ ràng và không sử dụng nguồn giống không rõ lai lịch.
Trong sản xuất giống, cần kiểm tra bướm mẹ hoặc mẫu liên quan bằng kính hiển vi để phát hiện Nosema. Nếu phát hiện bào tử, phải loại bỏ nguồn trứng đó. Đây là nguyên tắc kinh điển trong phòng Pebrine.
Với nông hộ nuôi thương phẩm, không nên tự để giống từ đàn có biểu hiện còi cọc, phát triển không đều, nhiều tằm đốm hoặc nghi bệnh. Dù một số con vẫn có thể làm kén, chúng vẫn có nguy cơ mang mầm bệnh.
11. VỆ SINH SÁT TRÙNG ĐỂ NGĂN PEBRINE LÂY LAN
Bào tử Nosema có thể tồn tại trong môi trường, phân, xác tằm bệnh, dụng cụ, bụi bẩn và vật liệu nuôi. Vì vậy, vệ sinh sát trùng là biện pháp rất quan trọng để giảm nguy cơ lây lan ngang.
Sau mỗi lứa, cần thu gom toàn bộ phân, lá dư, xác tằm, giấy lót, tơ gốc, kén hư và rác hữu cơ. Dụng cụ như nong, khay, lưới, dao thái lá, bạt chứa lá, né và khu nuôi phải được rửa sạch, phơi khô và sát trùng phù hợp khi không có tằm.
Sau sát trùng, phải mở thông gió để bay hết mùi hóa chất trước khi đưa tằm vào. Không nên sát trùng qua loa nếu lứa trước có dấu hiệu bệnh, vì mầm bệnh có thể tồn lưu và gây rủi ro cho lứa sau.
Tham khảo thêm: Chuẩn bị nuôi tằm: thời vụ, giống, lá dâu, nhà tằm và sát trùng
12. QUẢN LÝ PHÂN, LÁ DƯ VÀ TẰM BỆNH
Với Pebrine, phân, lá dư và xác tằm bệnh không được vứt bừa bãi. Nếu đổ gần nhà tằm, gần vườn dâu hoặc nơi có nước chảy, mầm bệnh có thể quay lại khu nuôi qua dụng cụ, giày dép, côn trùng hoặc bụi.
Tằm bệnh, tằm chết và rác từ ổ bệnh nên được thu gom riêng, xử lý bằng vôi hoặc chất phù hợp, sau đó chôn sâu hoặc tiêu hủy xa khu nuôi. Người chăm sóc sau khi xử lý tằm bệnh phải rửa tay, thay dụng cụ hoặc sát trùng dụng cụ trước khi quay lại khu tằm khỏe.
Không nên dùng chung dụng cụ giữa khu tằm bệnh và tằm khỏe nếu chưa sát trùng.
13. KIỂM TRA ĐỊNH KỲ ĐỂ PHÁT HIỆN SỚM
Pebrine có thể không biểu hiện rõ ở giai đoạn đầu, nên kiểm tra định kỳ rất quan trọng, đặc biệt trong sản xuất giống. Việc soi kính hiển vi mẫu nghi bệnh, mẫu bướm mẹ hoặc nguồn giống giúp phát hiện bào tử Nosema trước khi bệnh lan rộng.
Với hộ nuôi thương phẩm, nếu nhiều lứa liên tiếp xuất hiện tình trạng tằm còi, không đều, chậm lớn, có đốm đen nhỏ, kén giảm chất lượng mà không giải thích được bằng lá dâu, môi trường hay ngộ độc, nên nghĩ đến khả năng bệnh giống hoặc Pebrine và cần kiểm tra sâu hơn.
Phát hiện sớm giúp tránh lặp lại thất bại nhiều lứa.
14. CÓ NÊN DÙNG KHÁNG SINH, MEN VI SINH HOẶC DINH DƯỠNG ĐỂ TRỊ PEBRINE KHÔNG?
Không nên xem kháng sinh, men vi sinh hoặc dinh dưỡng là thuốc trị Pebrine. Kháng sinh chỉ có tác dụng với một số vi khuẩn, không diệt được Nosema bombycis. Men vi sinh có thể hỗ trợ hệ ruột trong một số trường hợp stress hoặc sau kháng sinh, nhưng không tiêu diệt được vi bào tử. Dinh dưỡng bổ sung có thể giúp tằm khỏe hơn trong điều kiện thông thường, nhưng không loại bỏ được Pebrine khỏi cơ thể tằm.
Nếu đàn tằm nhiễm Pebrine nặng, việc dùng sản phẩm hỗ trợ thường không giải quyết được gốc bệnh. Cần tập trung loại bỏ nguồn bệnh, vệ sinh sát trùng và kiểm soát giống cho lứa sau.
Sản phẩm hỗ trợ chỉ nên dùng để nâng sức khỏe đàn tằm bình thường hoặc hỗ trợ phục hồi sau stress, không dùng để thay thế chẩn đoán và kiểm soát Pebrine.
15. NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG GẶP KHI GẶP BỆNH PEBRINE
Sai lầm thứ nhất là nghĩ Pebrine giống bệnh vi khuẩn và dùng kháng sinh để trị. Kháng sinh không đặc trị Pebrine.
Sai lầm thứ hai là giữ lại tằm, nhộng hoặc ngài từ đàn nghi nhiễm để làm giống. Đây là rủi ro rất lớn vì bệnh có thể truyền qua trứng.
Sai lầm thứ ba là chỉ nhìn bằng mắt thường mà không soi kính hiển vi. Pebrine có thể biểu hiện không rõ, nhất là giai đoạn đầu.
Sai lầm thứ tư là vứt tằm bệnh, phân và rác bệnh gần nhà tằm hoặc vườn dâu, làm mầm bệnh quay lại lứa sau.
Sai lầm thứ năm là sát trùng dụng cụ qua loa sau lứa bệnh. Với Pebrine, cần vệ sinh – sát trùng nghiêm ngặt hơn bình thường.
TÓM TẮT BÀI VIẾT
Pebrine, còn gọi là bệnh tằm gai, là bệnh nguy hiểm do vi bào tử Nosema bombycis gây ra. Bệnh có thể làm tằm còi cọc, ăn kém, phát triển không đều, thân nhợt, xuất hiện đốm đen nhỏ trên da, chết sớm hoặc cho kén kém chất lượng. Trên nhộng và ngài, bệnh làm sức sống giảm, phát triển bất thường và đặc biệt có thể truyền qua trứng sang thế hệ sau.
Bệnh Pebrine rất khó chữa và gần như không có thuốc đặc trị hiệu quả trong sản xuất thương phẩm. Phòng bệnh phải bắt đầu từ nguồn trứng giống sạch, kiểm tra kính hiển vi, loại bỏ nguồn bệnh, vệ sinh sát trùng nghiêm ngặt và không dùng đàn nghi nhiễm để làm giống.
Khi nghi Pebrine, cần cách ly, lấy mẫu soi kính hiển vi, loại bỏ tằm bệnh, xử lý phân – lá dư – xác tằm bằng vôi hoặc chất phù hợp, tiêu hủy xa khu nuôi và sát trùng kỹ nhà tằm – dụng cụ trước lứa tiếp theo. Kháng sinh, men vi sinh và dinh dưỡng không phải thuốc trị Pebrine.
BÀI VIẾT VÀ SẢN PHẨM LIÊN QUAN
Người đọc có thể tham khảo thêm các bài viết liên quan trên website Tây Nguyên Silk:
Kính hiển vi phát hiện được những bệnh gì trên tằm dâu?
Tổng hợp các bệnh thường gặp trên tằm dâu và cách phòng trị
Bệnh Flacherie ở tằm dâu: nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng trị
Bệnh do vi khuẩn ở tằm dâu: bệnh đường ruột, hoại huyết và cách phòng trị
Bệnh do virus ở tằm dâu: bệnh tằm khúc, tằm đốt và cách phòng trừ
Bệnh nấm trắng – nấm vôi ở tằm dâu
Chuẩn bị nuôi tằm: thời vụ, giống, lá dâu, nhà tằm và sát trùng
Kỹ thuật ấp trứng và nuôi tằm con
Sản phẩm và nhóm giải pháp kỹ thuật liên quan:
Nano Silver 500ppm – dung dịch sát trùng khi đang nuôi tằm: hỗ trợ giảm áp lực vi khuẩn, nấm và mầm bệnh trong môi trường nhà tằm khi sử dụng đúng hướng dẫn; không phải thuốc đặc trị Pebrine.
Men vi sinh tiêu hóa Erich Way USA – hỗ trợ hệ ruột cho tằm: hỗ trợ cân bằng hệ vi sinh đường ruột sau stress hoặc sau kháng sinh theo hướng dẫn kỹ thuật; không dùng thay thế kiểm soát Pebrine.
Dinh dưỡng bổ sung cho tằm tuổi 4–5 Grown Super: hỗ trợ thể trạng, sức đề kháng và tuyến tơ trong giai đoạn tằm lớn khi đàn tằm khỏe ổn định; không dùng để trị Pebrine.
Tây Nguyên Silk Nuôi Tằm: nhóm sản phẩm, dụng cụ, vật tư và giải pháp kỹ thuật phục vụ nuôi tằm hiện đại.
TÂY NGUYÊN SILK – ĐỒNG HÀNH CÙNG NGƯỜI NUÔI TẰM
Tây Nguyên Silk xây dựng hệ thống kiến thức nuôi tằm dựa trên thực tế sản xuất và nền tảng sinh học của con tằm. Với Pebrine, nguyên tắc quan trọng nhất là kiểm soát nguồn giống và phát hiện bằng kính hiển vi, vì khi bệnh đã đi vào đàn tằm thương phẩm thì khả năng xử lý rất hạn chế.
Nuôi tằm hiệu quả không chỉ là chăm tằm trong nhà nuôi, mà còn phải kiểm soát từ trứng giống, vệ sinh sát trùng, xử lý rác bệnh và không để mầm bệnh tồn lưu sang lứa sau.
THÔNG TIN KẾT NỐI – CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT
Nếu bạn đang nuôi tằm, hoặc muốn tìm hiểu sâu và chuẩn hóa kiến thức – kỹ thuật – quy trình ngành dâu tằm tơ, vui lòng liên hệ:
Tây Nguyên Silk – Tư vấn kỹ thuật nuôi tằm hiện đại – miễn phí
Hotline/Zalo/Whatsapp/Viber/Wechat: (+84) 971.048.948
Email: taynguyensilk.vn@gmail.com
Facebook: www.facebook.com/TayNguyenSilk
YouTube: www.youtube.com/TayNguyenSilk
Website: https://taynguyensilk.vn/
- TẰM ĂN NHẦM HORMONE ECDYSONE TỪ SỚM, TUỔI 5 KÉO DÀI KHÔNG CHÍN – TẰM CÓ CÒN LÊN NÉ ĐƯỢC KHÔNG? (17.09.2026)
- TẰM ĂN KÉM, BỎ ĂN, NGỰC SƯNG, DA SẬM MÀU, ĐÍT TEO, THÂN VÀNG LÀ BỆNH GÌ? (14.09.2026)
- CẢNH BÁO LÁ DÂU NHIỄM THUỐC BVTV SINH HỌC CÓ THÀNH PHẦN BACILLUS THURINGIENSIS (02.09.2026)
- VI KHUẨN GRAM ÂM VÀ GRAM DƯƠNG LÀ GÌ TRONG NUÔI TẰM ? (31.08.2026)
- SK MINERAL 99% DÙNG THẾ NÀO ĐỂ PHÒNG NẤM VÔI TRONG MÙA MƯA? (21.06.2026)
- DINH DƯỠNG BỔ SUNG CHO TẰM KHI LÁ DÂU KÉM CHẤT LƯỢNG: CÓ THỂ KẾT HỢP VỚI MEN VI SINH KHÔNG? (21.06.2026)
- MEN VI SINH CHO TẰM CÓ THAY THẾ ĐƯỢC KHÁNG SINH KHÔNG? (21.06.2026)
- ANTI STRESS CHO TẰM NÊN DÙNG TRONG NHỮNG TÌNH HUỐNG NÀO? (21.06.2026)
- SAU KHI DÙNG KHÁNG SINH CHO TẰM, VÌ SAO CẦN PHỤC HỒI ĐƯỜNG RUỘT? (21.06.2026)
- DÙNG ENROFLOXACIN SAI CÁCH CÓ THỂ LÀM TẰM YẾU HƠN KHÔNG? (21.06.2026)
- KHI NÀO NÊN DÙNG STREPTOMYCIN CHO TẰM? KHI NÀO KHÔNG NÊN DÙNG? (21.06.2026)
- BẢNG PHÂN BIỆT NHANH: BỆNH MỦ, BỆNH KHÚC, NẤM, VI BÀO TỬ VÀ NGỘ ĐỘC TRÊN TẰM (13.06.2026)
- TẰM CHẾT RẢI RÁC MỖI NGÀY: VÌ SAO NGUY HIỂM HƠN CHẾT HÀNG LOẠT? (13.06.2026)
- TẰM BỊ TIÊU CHẢY SAU KHI ĂN LÁ DÂU NON: XỬ LÝ THẾ NÀO? (13.06.2026)
- TẰM TUỔI 5 CHÍN NHƯNG KHÔNG LÀM KÉN: NGUYÊN NHÂN THẬT SỰ (12.06.2026)
- TẰM TRẮNG MÌNH, BỤNG TRONG, KHÔNG KÉO TƠ LÀ BỆNH GÌ? (12.06.2026)
- TẰM CHẾT MỀM, XÁC HÔI: PHÂN BIỆT BỆNH MỦ, VIÊM RUỘT VÀ NGỘ ĐỘC (12.06.2026)
- TẰM ĐI PHÂN ƯỚT, PHÂN DÂY, PHÂN CÓ MÙI HÔI: NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH XỬ LÝ (12.06.2026)
- TẰM ĂN YẾU, NẰM IM, THÂN MỀM LÀ BỊ GÌ? (12.06.2026)
- TỔNG HỢP THUỐC PHÒNG BỆNH VÀ DINH DƯỠNG BỔ SUNG CHO TẰM CỦA TÂY NGUYÊN SILK (10.06.2026)
- VÌ SAO TÂY NGUYÊN SILK LỰA CHỌN STREPTOMYCIN VÀ ENROFLOXACIN TRONG PHÒNG – TRỊ BỆNH TRÊN TẰM? (07.06.2026)
- TÓM TẮT CÁC LOẠI VI KHUẨN, VIRUS, NẤM GÂY BỆNH TRÊN TẰM (07.06.2026)
- MÙA NÀO NGHỀ TẰM DỄ PHÁT SINH BỆNH NHẤT? (20.05.2026)
- VÌ SAO TẰM NGÀY 4–5 TUỔI 5 THƯỜNG HAY BỊ BỆNH HOẠI HUYẾT (BỆNH MỦ) ? (06.05.2026)
- TẰM BỊ TEO ĐÍT LÀ BỆNH GÌ? (04.05.2026)
- BỆNH TẰM KHÚC, TẰM ĐỐT DO VIRUS BmNPV: TRIỆU CHỨNG, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH PHÒNG BỆNH HIỆU QUẢ (28.04.2026)
- PHÂN BIỆT TẰM CHẾT DO SINH LÝ YẾU VÀ CHẾT DO BỆNH (09.02.2026)
- VIRUS ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH LÝ TẰM NHƯ THẾ NÀO? (08.02.2026)
- CƠ CHẾ SINH LÝ CỦA BỆNH VI KHUẨN (MỦ, HOẠI HUYẾT) Ở TẰM (08.02.2026)
- CƠ CHẾ SINH LÝ CỦA BỆNH NẤM Ở TẰM (08.02.2026)
- TẠI SAO TẰM DỄ CHẾT HÀNG LOẠT KHI MẮC BỆNH (08.02.2026)
- HIỂU VỀ KHÁNG SINH STREPTOMYCIN VÀ ENROFLOXACIN – TÁC DỤNG LÊN VI KHUẨN GÂY BỆNH TRÊN TẰM (18.10.2025)
- BỆNH NHIỄM TRÙNG HUYẾT (BỆNH MỦ) TRÊN TẰM – NGUYÊN NHÂN, DẤU HIỆU VÀ CÁCH PHÒNG TRỊ HIỆU QUẢ (18.10.2025)
- BỆNH MỦ GÂY CHẾT TRONG KHI TẠO KÉN NHƯ THẾ NÀO ? (26.08.2025)
- CẢNH GIÁC BỆNH VÔI Ở TẰM VÀO MÙA MƯA VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA HIỆU QUẢ (16.08.2025)
- CƠ CHẾ GÂY BỆNH VÀ TÁC DỤNG CỦA KHÁNG SINH DIỆT VI KHUẨN TRÊN TẰM (12.08.2025)
- NGUYÊN NHÂN NÀO GÂY NÊN (BỆNH) TẰM CÒI – HIỂU ĐÚNG ĐỂ XỬ LÝ HIỆU QUẢ (05.08.2025)
- CHỦNG VI KHUẨN NÀO GÂY BỆNH TRÊN TẰM VÀ NHỮNG LOẠI KHÁNG SINH NÀO PHÒNG TRỊ HIỆU QUẢ ? (30.07.2025)
- BỆNH PHÂN DÂY Ở TẰM – NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG VÀ CÁCH PHÒNG TRỊ HIỆU QUẢ (30.07.2025)
- BỆNH TẰM LÙN THÂN TRONG DO VIRUS DENSOVIRUS (BmDNV) – NGUY HIỂM VÀ CẦN PHÒNG NGỪA (27.07.2025)
- BỆNH DO VI KHUẨN Ở TẰM - SỬ DỤNG KHÁNG SINH LÀ GIẢI PHÁP DUY NHẤT HIỆU QUẢ (17.07.2025)
- LIỆU TRÌNH KHÁNG SINH CHO TẰM GIAI ĐOẠN LÀM KÉN (15.07.2025)
- CƠ CHẾ GÂY BỆNH MỦ (VIÊM HUYẾT – HOẠI HUYẾT) TRÊN TẰM VÀ HƯỚNG XỬ LÝ HIỆU QUẢ (15.07.2025)
- PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH TRÊN TẰM: ĐỪNG ĐỢI ĐẾN KHI TẰM CHẾT MỚI XỬ LÝ (15.07.2025)
- Bảng tổng hợp các bệnh trên tằm tại Việt Nam - Phần 4 Bệnh bào tử đơn bào (14.05.2025)
- Bảng tổng hợp các bệnh trên tằm tại Việt Nam - Phần 3 Bệnh Nấm (14.05.2025)
- Bảng tổng hợp các bệnh trên tằm tại Việt Nam - Phần 2 Bệnh Vi khuẩn (14.05.2025)
- Bảng tổng hợp các bệnh trên tằm tại Việt Nam - Phần 1 Bệnh Virus (14.05.2025)
- Cách sử dụng kháng sinh trong phòng trị bệnh cho tằm kén (07.05.2025)
- Những rủi ro trong nghề trồng dâu nuôi tằm bạn cần biết ! (31.01.2025)
- Bệnh nấm vôi hình thành và xâm nhập trên tằm như thế nào? (29.01.2025)
- Vi khuẩn Serratia marcescens gây bệnh gì trên tằm ? (07.01.2025)
- Bệnh Tằm Vôi (24.12.2024)
- Tằm bị ngộ độc phân bón sẽ như thế nào ? (21.11.2024)
- Cơ chế ngộ độc thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ lên sức khỏe và tuyến tơ của tằm như thế nào ? (21.11.2024)
- Thời gian ủ bệnh của vi khuẩn và virus gây bệnh trên tằm là bao lâu ? (08.11.2024)
- Ruồi nhặng uzi (Exorista bombycis) ký sinh trùng trên tằm (16.08.2024)
- BỆNH MUSCARDINE Ở TẰM DÂU: BỆNH NẤM TRẮNG, NẤM XANH, NẤM HỒNG VÀ CÁCH PHÒNG TRỊ (16.08.2024)
- BỆNH GRASSERIE Ở TẰM DÂU: BỆNH ĐỐT, BỆNH SƯNG PHỒNG DO VIRUS ĐA DIỆN (16.08.2024)
- KÍNH HIỂN VI PHÁT HIỆN ĐƯỢC NHỮNG BỆNH GÌ TRÊN TẰM DÂU? (07.07.2024)
- TẰM BỊ NGỘ ĐỘC THUỐC TRỪ SÂU: TRIỆU CHỨNG, CÁCH XỬ LÝ VÀ PHÒNG NGỪA AN TOÀN (15.06.2024)
- VÌ SAO TẰM CHÍN ĐẸP NHƯNG KHÔNG NHẢ TƠ QUẤN KÉN? (15.06.2024)
- TỔNG HỢP CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN TẰM DÂU VÀ CÁCH PHÒNG TRỊ THEO HƯỚNG AN TOÀN (05.06.2024)
- BỆNH DO VIRUS Ở TẰM DÂU: BỆNH TẰM KHÚC, TẰM ĐỐT – NGUYÊN NHÂN, DẤU HIỆU VÀ CÁCH PHÒNG TRỪ (31.05.2024)
- BỆNH DO VI KHUẨN Ở TẰM DÂU: BỆNH ĐƯỜNG RUỘT, BỆNH HOẠI HUYẾT VÀ CÁCH PHÒNG TRỊ (31.05.2024)
- BỆNH NẤM TRẮNG – NẤM VÔI Ở TẰM DÂU: NGUYÊN NHÂN, DẤU HIỆU VÀ CÁCH PHÒNG TRỊ (31.05.2024)






